Công an xã Vạn Đức, Gia Lai thăm anh Nguyễn Trường Giang đã ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế gia đình sau quãng thời gian lầm lỡ. Ảnh: Hồng Sơn

1. Cơ sở lý luận, pháp lý và yêu cầu đặt ra

THNCĐ với người chấp hành xong án phạt tù là một phần của quá trình thi hành án hình sự, bao gồm tổng thể các hoạt động chuẩn bị, hỗ trợ và tạo điều kiện về pháp lý, kinh tế, xã hội và tâm lý để người chấp hành xong án phạt tù tái lập vị thế xã hội, hòa nhập với cộng đồng, phòng ngừa tái phạm và góp phần giữ vững ANTT, an toàn xã hội.

Hiện nay, công tác THNCĐ đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Một mặt, hệ thống chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người chấp hành xong án phạt tù tiếp cận các nguồn lực phát triển. Mặt khác, sự cạnh tranh của thị trường lao động, những tác động tiêu cực của tệ nạn xã hội, ma túy, tín dụng đen, tội phạm công nghệ cao và định kiến xã hội vẫn là những rào cản đáng kể đối với quá trình tái hòa nhập. Thực tiễn cho thấy, phần lớn những người chấp hành xong án phạt tù có nguyện vọng được làm lại cuộc đời, tìm kiếm việc làm ổn định và hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên, không ít trường hợp gặp khó khăn về trình độ học vấn, tay nghề, điều kiện kinh tế, tâm lý mặc cảm hoặc thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội. Nếu không được quan tâm, giúp đỡ kịp thời, những khó khăn này có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến tái phạm tội hoặc vi phạm pháp luật.

Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác THNCĐ, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực cho việc triển khai các hoạt động hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho công tác này. Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Công an đã phát huy vai trò nồng cốt tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác THNCĐ; chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù. Nhờ đó, công tác THNCĐ thời gian đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo chuyển biến rõ nét cả về nhận thức, thể chế, cơ chế phối hợp và hiệu quả thực tiễn.

2. Những điểm nổi bật trong công tác THNCĐ

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách, đổi mới tư duy quản lý – bước đột phá quan trọng trong công tác THNCĐ. Quán triệt quan điểm của Đảng về kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa tội phạm với giáo dục, cải tạo và hỗ trợ người vi phạm pháp luật tái hòa nhập xã hội, Bộ Công an đã chủ động tham mưu hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến công tác thi hành án hình sự và THNCĐ theo hướng đồng bộ, nhân văn, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Nghị định số 49/2020/NĐ-CP, ngày 17/4/2020 của Chính phủ cùng hệ thống thông tư hướng dẫn đã tạo hành lang pháp lý, quy định tương đối đầy đủ trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù. Các quy định này thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phát triển, lấy người chấp hành xong án phạt tù làm trung tâm của quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện để họ tiếp cận việc làm, an sinh xã hội và các cơ hội phát triển bền vững.

Đặc biệt, Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg, ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã tạo ra bước đột phá trong công tác THNCĐ. Lần đầu tiên, một chính sách tín dụng ưu đãi riêng được thiết kế cho nhóm đối tượng này, giúp họ có điều kiện tiếp cận nguồn vốn để phát triển sinh kế và khuyến khích các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp sử dụng lao động là người hoàn lương. Các chính sách về xóa án tích, đăng ký cư trú, cấp căn cước công dân, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… đã góp phần tháo gỡ những rào cản pháp lý, tâm lý, tạo dựng môi trường xã hội thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập đối của người chấp hành xong án phạt tù.

Trước đây biện pháp quản lý và phòng ngừa tái phạm chủ yếu tập trung vào giám sát, chưa giải quyết hiệu quả những khó khăn về định kiến xã hội, việc làm và thu nhập của người chấp hành xong án phạt tù. Hiện nay, công tác THNCĐ đã chuyển từ tư duy quản lý đơn thuần sang hỗ trợ, đồng hành, tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù tiếp cận học nghề, việc làm, an sinh xã hội và nguồn lực phát triển kinh tế. Sự chuyển đổi này phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về tái hòa nhập xã hội đồng thời thể hiện rõ quan điểm lấy con người làm trung tâm trong xây dựng và thực thi chính sách, góp phần giảm nguy cơ tái phạm tội và bảo đảm ANTT.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị và tổ chức THNCĐ tại cơ sở. THNCĐ không bắt đầu từ thời điểm phạm nhân chấp hành xong án phạt tù mà đã được mới công tác quản lý, giáo dục phạm nhân theo hướng toàn diện hơn. Bên cạnh giáo dục pháp luật, giáo dục công dân và giáo dục đạo đức, nhiều cơ sở tăng cường tư vấn tâm lý, định hướng nghề nghiệp, giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng lao động cho phạm nhân. Trong giai đoạn 2020 – 2025, các trại giam, trại tạm giam đã tổ chức 7.903 lớp giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, giáo dục kỹ năng sống, tư vấn tâm lý, hỗ trợ thủ tục pháp lý; phối hợp với các trường đào tạo nghề tổ chức 1.435 lớp định hướng nghề nghiệp, kỹ năng tìm kiếm việc làm cho 54.217 phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù. Đây là cơ sở quan trọng giúp người chấp hành xong án phạt tù hình thành kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật lao động và khả năng thích ứng với môi trường xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù. Bên cạnh đó, nhiều mô hình liên kết giữa cơ sở giam giữ với doanh nghiệp được triển khai nhằm giúp phạm nhân tiếp cận các ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động. Công an các địa phương chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền cơ sở xây dựng các kế hoạch hỗ trợ THNCĐ; phối hợp với các ngành chức năng xây dựng các biện pháp thích hợp hỗ trợ việc làm, học nghề, vay vốn và trợ giúp pháp lý cho người chấp hành xong án phạt tù phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Phạm nhân ở Trại giam Đắk Tân, Đắk Lắk tham gia Chương trình tư vấn nghề nghiệp và việc làm cho người chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù. Ảnh Như Quỳnh

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an trong tổ chức thực hiện công tác THNCĐ. Là cơ quan thường trực giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về thi hành án hình sự và THNCĐ, Bộ Công an đã chủ động tham mưu Chính phủ ban hành nhiều chủ trương, chính sách về THNCĐ; đồng thời hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Công an các địa phương tiếp nhận, quản lý, giáo dục và giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tại cộng đồng. Trong đó, lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Công an cấp xã vừa tham mưu UBND cấp xã, vừa trực tiếp tiếp nhận, quản lý, giám sát, giáo dục, hỗ trợ đăng ký cư trú, cấp căn cước, cấp phiếu lý lịch tư pháp, xóa án tích… đối với người chấp hành xong án phạt tù, góp phần đưa công tác THNCĐ trở thành nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về công tác này, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác phòng ngừa tội phạm với bảo đảm ANTT và phát triển bền vững ở địa phương.

Bên cạnh đó, Bộ Công an đã xây dựng Website “Con đường hướng thiện” (conduonghuongthien.vn) để tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về THNCĐ; cung cấp thông tin, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm và giới thiệu các mô hình hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù. Lực lượng Công an các cấp thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chấp hành xong án phạt tù và gia đình họ; kịp thời biểu dương, nhân rộng những tấm gương hoàn lương tiêu biểu, góp phần củng cố niềm tin, động viên người chấp hành xong án phạt tù nỗ lực vươn lên ổn định cuộc sống.

Thứ tư, đẩy mạnh hỗ trợ vay vốn, giải quyết việc làm và phát triển sinh kế bền vững. Việc làm và thu nhập hợp pháp luôn được xem là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả THNCĐ. Việc triển khai chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã tạo bước đột phá, mở ra cơ chế hỗ trợ sinh kế bền vững cho người chấp hành xong án phạt tù thông qua việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Để bảo đảm chính sách được thực hiện hiệu quả, Công an các đơn vị, địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách xã hội và các cơ quan liên quan rà soát, lập danh sách, tư vấn và giới thiệu người chấp hành xong án phạt tù có đủ điều kiện được tiếp cận nguồn vốn vay. Tính đến ngày 13/5/2026, đã có 15.854 người chấp hành xong án phạt tù được vay 1.369 tỷ đồng. Bên cạnh chính sách tín dụng ưu đãi, Quỹ hòa nhập cộng đồng tại các cơ sở giam giữ đã tạo thêm nguồn lực hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù học nghề, tìm kiếm việc làm. Các nguồn vốn ưu đãi không chỉ giúp người chấp hành xong án phạt tù có điều kiện tự tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh mà còn khuyến khích các doanh nghiệp tiếp nhận, sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù, góp phần giải quyết một trong những rào cản lớn nhất của quá trình THNCĐ. Nhiều người sau khi được hỗ trợ vốn đã vượt qua mặc cảm, vươn lên làm giàu chính đáng, trở thành những điển hình tiên tiến trong lao động, sản xuất, tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Thứ năm, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia công tác THNCĐ. Cấp ủy, chính quyền các địa phương đã đưa nội dung THNCĐ vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chương trình bảo đảm ANTT và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư tích cực tham gia các công tác THNCĐ, phân công cán bộ trực tiếp đồng hành, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù trong quá trình hòa nhập xã hội. Đến nay, trên cả nước đã xây dựng và duy trì hiệu quả 1.680 mô hình, câu lạc bộ hỗ trợ THNCĐ, tiêu biểu như: “Phiên chợ của tình người”, “Đối thoại với người lầm lỡ”, “Câu lạc bộ hoàn lương”, “5+1”, “Mỗi đoàn thể giúp đỡ một người hoàn lương”, “Tổ liên gia hỗ trợ THNCĐ”, “Doanh nghiệp đồng hành cùng người chấp hành xong án phạt tù”, “Gia đình không có người tái phạm tội và vi phạm pháp luật”… Các mô hình này đã tạo môi trường xã hội thuận lợi để người chấp hành xong án phạt tù xóa bỏ mặc cảm, củng cố niềm tin, phát huy năng lực bản thân, hòa nhập bền vững với cộng đồng.

Ra mắt mô hình giải quyết việc làm cho người tái hòa nhập cộng đồng tại xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh Hoàng Thanh

Các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương tích cực phối hợp với lực lượng Công an xây dựng, đăng tải hơn 287.000 bài viết, tổ chức hơn 241.000 lượt tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng về THNCĐ. Nhiều chuyên mục, chương trình giao lưu nghệ thuật đã góp phần lan tỏa giá trị nhân văn của công tác THNCĐ, nâng cao nhận thức xã hội, giảm bớt định kiến, kỳ thị và tạo môi trường thuận lợi để người chấp hành xong án phạt tù ổn định cuộc sống.

Thứ sáu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác THNCĐ. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, theo dõi, hỗ trợ và giải quyết thủ tục hành chính đối với người chấp hành xong án phạt tù. Nhiều địa phương đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, các nền tảng truyền thông số trong công tác tuyên truyền chính sách pháp luật, giới thiệu việc làm, hướng dẫn tiếp cận các chương trình vay vốn và hỗ trợ an sinh xã hội giúp người chấp hành xong án phạt tù tiếp cận các dịch vụ công nhanh chóng, thuận lợi hơn…

3. Định hướng công tác THNCĐ thời gian tới

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác THNCĐ đối với người chấp hành xong án phạt tù vẫn đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Số lượng người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương hằng năm tương đối lớn, trong khi nguồn lực hỗ trợ ở một số địa phương còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, tình trạng kỳ thị, mặc cảm xã hội tuy đã giảm nhưng vẫn tồn tại ở những mức độ khác nhau, ảnh hưởng đến cơ hội việc làm và khả năng hòa nhập của người chấp hành xong án phạt tù. Mặt khác, trình độ học vấn, tay nghề và khả năng thích ứng với thị trường lao động của một bộ phận người chấp hành xong án phạt tù còn thấp, trong khi yêu cầu của nền kinh tế số và thị trường lao động ngày càng cao. Tác động của tệ nạn xã hội, ma túy và các loại tội phạm mới trên không gian mạng tiếp tục tiềm ẩn nguy cơ tác động tiêu cực đến người mới chấp hành xong án phạt tù. Những vấn đề trên đòi hỏi công tác THNCĐ tiếp tục phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa theo hướng:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về THNCĐ theo hướng đồng bộ, hiện đại và lấy người chấp hành xong án phạt tù làm trung tâm nhằm bảo đảm tính bền vững của công tác THNCĐ. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành chính sách hình sự với chính sách an sinh xã hội, việc làm, giáo dục nghề nghiệp và giảm nghèo bền vững. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế hỗ trợ đặc thù đối với người chấp hành xong án phạt tù trong tiếp cận đào tạo nghề, việc làm, nhà ở xã hội, trợ giúp pháp lý, tư vấn tâm lý và các dịch vụ xã hội cơ bản, tạo điều kiện để họ nhanh chóng ổn định cuộc sống và hòa nhập xã hội.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, chuẩn bị THNCĐ ngay từ trong các cơ sở giam giữ. Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình giáo dục phạm nhân theo hướng tăng cường giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, ý thức công dân và khả năng thích ứng với môi trường xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù. Gắn hoạt động dạy nghề với nhu cầu của thị trường lao động, định hướng phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và xu hướng chuyển đổi số. Mở rộng các mô hình liên kết giữa cơ sở giam giữ với doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện để phạm nhân được tiếp cận môi trường lao động thực tế và có cơ hội việc làm sau khi trở về địa phương.

Ba là, đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ việc làm, tín dụng và sinh kế bền vững. Tiếp tục phát huy hiệu quả chính sách hỗ trợ tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù; nghiên cứu mở rộng đối tượng, quy mô và thời hạn hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tiễn. Xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề, tuyển dụng và tạo việc làm cho người hoàn lương. Lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế địa phương với công tác THNCĐ nhằm tạo nguồn lực hỗ trợ lâu dài và ổn định.

Bốn là, tiếp tục nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong việc tiếp nhận, quản lý, giáo dục và giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức xã hội, giảm thiểu định kiến đối với người hoàn lương; lan tỏa các mô hình, điển hình tiên tiến trong THNCĐ; xây dựng môi trường xã hội nhân văn, bao dung và trách nhiệm đối với người chấp hành xong án phạt tù.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về THNCĐ. Tiếp tục khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng số phục vụ công tác quản lý, hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù. Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chức năng; xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá và dự báo tình hình THNCĐ trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, giảm chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Lực lượng CAND tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu chiến lược, tổ chức thực hiện và hướng dẫn công tác THNCĐ; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và hợp tác quốc tế nhằm tiếp thu những kinh nghiệm phù hợp phục vụ công tác THNCĐ trong điều kiện mới./.

Trung tướng TRẦN VĂN THIỆN, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành hình sự tại cộng đồng

Nguồn: https://tapchicand.gov.vn/#/bai-viet/nhung-diem-noi-bat-trong-cong-tac-tai-hoa-nhap-cong-dong-doi-voi-nguoi-chap-hanh-xong-an-phat-tu-adt_20260724183047182.html